SHL - Từng đứng trước nguy cơ thất truyền, những giống nếp quý gắn với lịch sử và văn hóa Sa Huỳnh nay được “đánh thức” bằng hành trình nghiên cứu bền bỉ của TS. Nguyễn Thanh Liêm (Trường Đại học Quy Nhơn). Không chỉ phục hồi hương vị đặc trưng, đề tài còn mở ra hướng đi bền vững cho nông nghiệp địa phương - nơi khoa học trở thành cầu nối gìn giữ và phát huy giá trị bản địa.
Từ nguy cơ mai một đến trăn trở gìn giữ nguồn gene quý
Từng là sản vật tiến vua, mang đậm dấu ấn văn hóa vùng đất Sa Huỳnh, nếp Ngự và nếp Cút đã có thời gian dài đứng trước nguy cơ mai một khi thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp và dần bị thay thế bởi các giống lúa lai năng suất cao.
Xuất phát từ thực tiễn đó, cùng trăn trở về sự suy thoái của nguồn gene bản địa, TS. Nguyễn Thanh Liêm – Giám đốc chương trình đào tạo ngành Nông học, Trường Đại học Quy Nhơn đã khởi xướng nghiên cứu phục tráng hai giống nếp đặc sản. Đây là nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, với nguồn kinh phí chủ yếu từ ngân sách sự nghiệp khoa học của Nhà nước. Không chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu, đề tài còn thể hiện rõ vai trò của khoa học trong việc gìn giữ những giá trị nông nghiệp – văn hóa đặc trưng của địa phương.

TS. Nguyễn Thanh Liêm – Giám đốc chương trình đào tạo ngành Nông học, Trường Đại học Quy Nhơn đã khởi xướng nghiên cứu phục tráng hai giống nếp đặc sản
Hành trình phục tráng: Bền bỉ, chính xác và giàu chiều sâu khoa học
Đề tài được triển khai theo hướng nghiên cứu thực nghiệm – ứng dụng, với quy trình chặt chẽ từ khảo sát thực địa đến phân tích chuyên sâu. Trong hơn 3 năm (2022–2025), nhóm nghiên cứu đã khảo sát trên 120 hộ dân, thu thập khoảng 200 mẫu giống và tiến hành chọn lọc qua nhiều thế hệ.
Quy trình nghiên cứu được thực hiện theo chuỗi: khảo sát – thu thập mẫu – đánh giá đặc điểm di truyền – bảo tồn nguồn gene – đề xuất hướng khai thác, bảo đảm vừa phục hồi, vừa nâng cao chất lượng giống. Từng cá thể lúa được theo dõi tỉ mỉ về đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, kháng đổ ngã, hàm lượng amylose, protein và hương thơm nhằm giữ lại những tinh túy – nguồn gene quý nhất.
Không dừng lại ở phục hồi hình thái, nghiên cứu còn ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử để phân tích, đánh giá đa dạng di truyền và định danh nguồn gene. Lần đầu tiên, hệ thống dữ liệu đầy đủ cho hai giống nếp quý được xây dựng, qua đó tuyển chọn được 8 dòng lúa nếp ổn định cùng 300 kg giống siêu nguyên chủng đạt tiêu chuẩn quốc gia.
Đáng chú ý, đề tài được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu liên ngành, các nhà khoa học cùng sự tham gia của địa phương. Sự kết hợp này đã tạo nên nền tảng chuyên môn vững chắc, gắn nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Quanh cảnh buổi báo cáo các số kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu trước chính quyền địa phương, cơ quan chủ quản và đại diện bà con nông dân canh tác nếp Ngự Sa Huỳnh
Không dừng lại ở phục hồi hình thái, nghiên cứu còn ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử để phân tích, đánh giá đa dạng di truyền và định danh nguồn gene. Lần đầu tiên, hệ thống dữ liệu đầy đủ cho hai giống nếp quý được xây dựng, qua đó tuyển chọn được 8 dòng lúa ổn định cùng 300 kg giống siêu nguyên chủng đạt tiêu chuẩn quốc gia – tạo nền tảng khoa học vững chắc cho việc bảo tồn và nhân giống.
Từ kết quả nghiên cứu đến giá trị thực tiễn và định hướng bền vững
Sau phục tráng, nếp ngự Sa Huỳnh không chỉ giữ được hương thơm đặc trưng mà còn nâng cao năng suất, đạt khoảng 4,82 tấn/ha (tăng hơn 40%). Nếp Cút cũng cải thiện rõ rệt về năng suất và tính ổn định. Quy trình canh tác được điều chỉnh theo hướng khoa học, góp phần giảm chi phí, hạn chế sâu bệnh, giảm phát thải, giảm ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Với định hướng ứng dụng rõ nét, kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại trong phòng thí nghiệm mà hướng đến phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp và bảo tồn nguồn gene quý tại địa phương (tỉnh Quảng Ngãi). Quy trình canh tác giống nếp ngự Sa Huỳnh đã được hoàn thiện và sẽ chuyển giao trong thới gian đến, mở ra khả năng nhân rộng cho nông dân và các đơn vị sản xuất trong tương lai.
Không chỉ dừng lại ở đề tài này, TS. Nguyễn Thanh Liêm còn triển khai nhiều hướng nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao như tuyển chọn giống lúa phục vụ chế biến sản phẩm truyền thống (bún, bánh phở, bánh xèo…), phát triển giống lúa Japonica chất lượng cao hướng đến xuất khẩu, cũng như nghiên cứu các giống lúa màu phục vụ mô hình nông nghiệp gắn với du lịch sinh thái.
Bên cạnh đó, các giống lúa màu – lúa đa sắc đang trong giai đoạn khảo nghiệm và đăng ký bảo hộ giống và chuyển gia, nhằm phục vụ phát triển mô hình ruộng bậc thang gắn với du lịch sinh thái tại Măng Đen, góp phần tạo cảnh quan đặc trưng và gia tăng giá trị kinh tế – văn hóa.
%20(B%C3%A0i%20%C4%91%C4%83ng%20Instagram%20(45)).jpg)
Thành công của đề tài không chỉ góp phần bảo tồn nguồn gene quý hiếm mà còn đặt nền tảng cho định hướng phát triển lâu dài: khai thác giống theo hướng bền vững, gắn với xây dựng sản phẩm đặc sản vùng và nâng cao giá trị kinh tế nông nghiệp địa phương. Trong tương lai, các kết quả nghiên cứu có thể được mở rộng theo hướng nhân giống, phát triển sản phẩm đặc trưng, tiến tới xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý cho các giống nếp đặc sản Sa Huỳnh. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho định hướng của Trường Đại học Quy Nhơn trong việc gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn, góp phần phục vụ phát triển kinh tế – xã hội địa phương một cách bền vững.
Minh Hiền